20230204_143117


VIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

THE INSTITUTE FOR THE APPLICATION OF INFORMATION AND COMMUNICATION TECHNOLOGY

BẢN QUYỀN THUỘC VIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG THEO CHỨNG NHẬN SỐ A-1888 CỦA BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP NGÀY 12/3/2018. Chịu trách nhiệm nội dung website: GS.TSKH Phan Xuân Sơn. Chịu trách nhiệm kỹ thuật website: Kỹ sư CNTT Phạm Thị Ngọc Thanh ☎️ 0927890588

Đuờng lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nuớc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

 

1608052075702

VIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

 

(DÙNG CHO CÁC LỚP BỒI DƯỠNG

CÔNG TÁC THÔNG TIN CƠ SỞ)

 

 

GS TSKH Phan Xuân Sơn

  1. KHÁI QUÁT SỰ PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TỪ 1976 ĐẾN 1986

1.1.Tình hình thế giới

Từ những thập kỷ 70 của thế kỷ XX, với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học và công nghệ, lực lượng sản xuất thế giới phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu. Sự phát triển kinh tế, cạnh tranh, đầu tư và phụ thuộc lẫn nhau đã làm xuất hiện xu hướng toàn cầu hóa, xu thế hòa hoãn, thi đua kinh tế thay vì chạy đua vũ trang, đặc biệt là xu thế hòa hoãn giữa các nước lớn đã xuất hiện.

Sau thắng lợi của cách mạng Việt Nam (năm 1975), hệ thống xã hội chủ nghĩa đã mở rộng phạm vi, phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh. Tuy nhiên, từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế – xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện sự trì trệ và mất ổn định, khó khăn.

1.2.Tình hình trong nước

Sau chiến thắng mùa Xuân năm 1975, tinh thần cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân lên cao, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội bước vào giai đoạn mới, được tiến hành trên phạm vi cả nước. Mặc dù đã đạt được một số thành tựu quan trọng, nhưng sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước gặp rất nhiều khó khăn: Các nguồn lực đều tập trung cho khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, trong lúc đó, chúng ta phải đối phó với hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Lợi dụng vấn đề Cămpuchia, các thế lực thù địch tìm cách cô lập, chống phá cách mạng Việt Nam. Bên cạnh những khó khăn khách quan, chúng ta đã thực hiện các chính sách phát triển kinh tế-xã hội nóng vội, chủ quan, duy ý chí. Vì vậy, đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội kéo dài.

1.3.Những nội dung chủ yếu trong chính sách đối ngoại thời kỳ 1976-1986

Đại hội lần thứ IV của Đảng (12-1976) Xác định: “Ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Chúng ta chủ trương củng cố và tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hợp tác với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa; bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào – Campuchia; sẵn sàng, thiết lập phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực; thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa Việt Nam với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.

Đại hội lần thứ V của Đảng (3-1982) Xác định: Công tác đối ngọai phải trở thành một mặt trận chủ động, tích cực trong đấu tranh nhằm làm thất bại chính sách của các thế lực hiếu chiến mưu toan chống phá cách mạng nước ta. Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là nguyên tắc, là chiến lược và luôn luôn là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; xác định quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào – Campuchia có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của ba dân tộc; chủ trương đối thoại với các nước trong khu vực; khôi phục quan hệ bình thường với Trung Quốc trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình; thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường về mặt nhà nước, về kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị.

Chính sách đối ngoại từ năm 1976-1986 đạt được một số kết quả: Quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa được tăng cường, Việt Nam gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế - SEV (29-6-1978); đến năm 1977, nước ta đã thiết lập thêm quan hệ ngoại giao với 23 nước; trở thành thành viên của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Liên hợp quốc.

Tuy vậy, chúng ta còn gặp nhiều khó khăn: Nước ta bị bao vây, cô lập, cấm vận… Nguyên nhân cơ bản đã được Đại hội lần thứ VI của Đảng chỉ ra là “bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan”. Trong chính sách đối ngoại, chúng ta chưa nắm bắt được xu thế chuyển từ đối đầu sang hoà hoãn và chạy đua kinh tế trên thế giới.

  1. ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA THỜI KỲ ĐỔI MỚI

2.1.Bối cảnh quốc tế và khu vực sau chiến tranh lạnh

Từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia, dân tộc. Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng khoảng sâu sắc. Đến đầu những năm 1990, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ, dẫn đến những biến đổi to lớn về quan hệ quốc tế. Chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào thoái trào, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bị khủng hoảng toàn diện. Trật tự thế giới thay đổi, sự phân bổ quyền lực trong trật tự thế giới mới bị đảo lộn. Trật tự hai cực chấm dứt, trật tự thế giới mới chưa ổn định, nhiều bất trắc, khó lường. Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng “đơn cực” và “đa cực” đang diễn ra gay gắt. Nhưng “cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển nhưng các nước lớn vẫn sẽ chi phối các quan hệ quốc tế”[1]

Trên phạm vi thế giới, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới là hoà bình và hợp tác phát triển Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển đã đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế.

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là vai trò của công nghệ thông tin đã tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị và các quan hệ quốc tế. Nền kinh tế thế giới trở nên phụ thuộc lẫn nhau, bước sang phát triển kinh tế tri thức, việc sản xuất, sử dụng và sáng tạo tri thức trở nên quyết định trong cạnh tranh toàn cầu. Mạng internet, thông tin đã kết nối toàn cầu, làm thay đổi cách thức tương tác không chỉ trong sản xuất mà trong các quan hệ chính trị, xã hội.

Xu thế toàn cầu hoá và tác động của nó cả cơ hội và thách thức, tích cực lẫn tiêu cực, đã buộc tất cả các nước đều phải chủ động, tích cực tham gia. Các nền kinh tế liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Quan hệ giữa các khu vực, các quốc gia, các nền văn hóa, các cá nhân trên thế giới ngày càng được tăng cường, thúc đẩy tình hữu nghị giữa các dân tộc…

Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng đặt ra hàng loạt thách thức từ xói mòn chủ quyền quốc gia, tình trạng nước giàu bóc lột nước nghèo, sự lũng đoạn của các tập đoàn đa quốc gia đối với kinh tế thế giới, cho đến di chuyển tội phạm, các đại dịch…Phong trào chống mặt trái toàn cầu hóa, vì công bằng, an sinh, bảo vệ môi trương và phát triển bền vững đang ngày cang thu hút được sự ủng hộ của nhân dân toàn thế giới. Như vậy, toàn cầu hóa là một quá trình đấu tranh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng gay gắt.

Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra gay gắt với những biểu hiện mới, hình thức mới. Chiến tranh quy mô lớn khó có thể xẩy ra, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên đang xẩy ra khắp nơi. Trong quan hệ quốc tế, can thiệp, trừng phạt, bao vây, cấm vận…vẫn đang tồn tại như là một công cụ chính trị để giải quyết quan hệ giữa các nước. Các cuộc “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”, “cách mạng hoa” có thể diễn ra nhanh chóng và lan rộng.

 Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, từ những năm 1990, có nhiều chuyển biến mới: Hợp tác trong khu vực diễn ra sôi động trên nhiều tầng nấc từ liên khu vực đến hợp tác theo nhóm nước và song phương; từ kinh tế mở rộng ra các lĩnh vực chính trị, an ninh…Hiện nay, khu vực châu Á – Thái Bình Dương được coi là khu vực phát triển năng động nhất thế giới, là nơi tranh chấp quyết liệt của các nước lớn, nhất là Mỹ và Trung Quốc. Sự phát triển của khu vực này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chiến lược “xoay trục” của Mỹ, Liên minh châu Âu, vai trò chiến lược của Trung Quốc và các cường quốc khác, tạo ra các hình thức tập hợp lực lượng mới và các lợi ích đan xen.

Đông Nam Á vẫn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, nhất là các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo ngày càng gia tăng. Khu vực này trở thành địa bàn tranh chấp và dàn xếp lợi ích chiến lược giữa các nước lớn, làm cho tình hình chính trị, an ninh khu vực phức tạp hơn. Tuy nhiên, khuynh hướng liên kết khu vực ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Các nước ASEAN tiếp tục phát huy vai trò  trung tâm trong việc duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy liên kết kinh tế của cả khu vực. Tuy nhiên quan hệ nội khối, chịu tác động, lôi kéo, gây ảnh hưởng của các nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ và có những biểu hiện phức tạp do chính sách thực dụng và lợi ích riêng của chính các nước thành viên ASEAN tạo ra.

Các nước láng giềng có chung đường biên giới với nước ta có những diễn biến phức tạp. Trung Quốc tiếp tục khẳng định vai trò vị trí cường quốc, tham vọng nâng cao vị thế, thể hiện lập trường nước lớn, cứng rắn và có hành động gây hấn trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông với Việt Nam và các nước trong khu vực.

Quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam – Lào, Việt Nam – Cămpuchia vẫn duy trì, củng cố. Tuy nhiên, các nước đều bị ảnh hưởng bới những nhân tố bên trong và bên ngoài trong quan hệ với Việt Nam.

2.2.Quá trình phát triển đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước từ năm 1986 đến nay

Giai đoạn 1986-1996:

Yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam thời kỳ này là phá thế bị bao vây, cấm vận; chống tụt hậu về kinh tế; giải toả tình trạng cô lập, đối đầu, thù địch, tiến tới bình thường hoá và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, tạo môi trường quốc tế thuận lợi để tập trung xây dựng kinh tế. Nhu cầu chống tụt hậu về kinh tế cũng đặt ra gay gắt.  Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế. Đảng ta chủ trương “mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế – xã hội khác nhau”. Tháng 12-1987, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành Tháng 5-1988, Bộ chính trị ra nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới. Đề ra chủ trương kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh và hợp tác cùng tồn tại hoà bình; lợi dụng sự phát triển của cách mạng khoa học – kỹ thuật và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới để tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ đối ngoại Trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, từ năm 1989, Đảng chủ trương xoá bỏ tình trạng độc quyền trong sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu.

Đại hội VII của Đảng đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”, với phương châm “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VII (tháng 6-1992) nhấn mạnh yêu cầu đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế. Mở rộng cửa để tiếp thu vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài, tiếp cận thị trường thế giới, trên cơ sở bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường, hạn chế đến mức tối thiểu những mặt tiêu cực phát sinh trong quá trình mở cửa. Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (1/1994) chủ trương triển khai mạnh mẽ và đồng bộ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ đối ngoại, trong phân công lao động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ đối ngoại

Giai đoạn từ 1996-nay:

Bổ sung và phát triển đương lối đối ngoại theo phương châm chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Đại hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế. Đồng thời chủ trương “xây dựng nền kinh tế mở và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”. Chủ trương đối ngoại của Đại hội VIII có các điểm mới: một là, chủ trương mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác; hai là, quán triệt yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngọai nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ; ba là, lần đầu tiên Đảng đưa ra chủ trương thử nghiệm để tiến tới thực hiện đầu tư ra nước ngoài. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, khoá VIII (tháng 12-1997), chỉ rõ: Trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài. Nghị quyết đề ra chủ trương tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định Thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO.

Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực. Đại hội IX đã phát triển phương châm của Đại Hội VII: “Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.

 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4-2006) nêu quan điểm: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Đồng thời đề ra chủ trương “ chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”.

Đường lối đối ngoại Đại hội XI và những phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Đảng ta[2].

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã thông qua 3 văn kiện quan trọng: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 và Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Ba văn kiện quan trọng này nêu quan điểm, phương hướng cơ bản chỉ đạo cả lâu dài, trung hạn và ngắn hạn về đường lối đối ngoại, tạo thành một thể thống nhất. Từ Báo cáo chính trị đến Chiến lược và Cương lĩnh, đường lối đối ngoại của Đảng được đề cập phù hợp với nhiệm vụ đối ngoại trong từng giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, nhưng thống nhất về mục tiêu, nguyên tắc, phương châm và những định hướng lớn, lâu dài. Nội dung của phần đối ngoại trong các văn kiện đó hợp thành Đường lối đối ngoại Đại hội XI, Đại hội XII của Đảng

Kế thừa đường lối đối ngoại trong những năm Đổi mới, đường lối đối ngoại Đại hội XI, Đại hội XII có những bổ sung, phát triển phù hợp với tình hình mới, thể hiện ở những nội dung chính dưới đây:

Mục tiêu của đối ngoại:

Trong thời kỳ đổi mới, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta lấy việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, để phát triển kinh tế – xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc. Mở rộng đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế là để tạo thêm nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Kết hợp nội lực với các nguồn lực từ bên ngoài tạo thành nguồn lực tổng hợp để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Phát huy vai trò và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế. Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Văn kiện Đại hội XI nêu rõ: Đường lối đối ngoại của Đảng là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”[3]. Hai mục tiêu này thống nhất với nhau. Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là cơ sở để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xây dựng một nước Việt nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh là điều kiện để thực hiện lợi ích quốc gia dân tộc. 

Lần đầu tiên, mục tiêu đối ngoại “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” được nêu rõ trong Cương lĩnh và Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng. Từ khi Đảng ra đời, lợi ích quốc gia, dân tộc luôn luôn là mục tiêu phấn đấu của Đảng ta. Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI đã khẳng định “Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế”. Nghị quyết Trung ương 8, khóa IX nhấn mạnh “bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc” là một trong những mục tiêu then chốt của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc .

Mục tiêu đối ngoại trong văn kiện Đại hội XI của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng, khẳng định rõ ràng rằng: Đảng ta hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc; trên cơ sở thống nhất lợi ích của giai cấp và lợi ích dân tộc. Khẳng định lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu và là  nguyên tắc cao nhất của các hoạt động đối ngoại, từ ngoại giao Nhà nước, ngoại giao Đảng, đến ngoại giao nhân dân.

Văn kiện Đại hội XII (2016) nêu rõ các chủ trương lớn của công tác đối ngoại:

1) Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển;

2) Đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ đối ngoại;

3) Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;

4) Là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế,...nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân;

5) Nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Các nguyên tắc hoạt động đối ngoại:

- Nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; bảo đảm lợi ích quốc gia, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết.

- Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; các nguyên tắc ứng xử của khu vực;

- Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại;

Phương châm, tư tưởng chỉ đạo của đường lối đối ngoại:

 Từ đường lối đối ngoại của Đảng, chính sách ngoại giao của Nhà nước chúng ta thấy rằng, công tác đối ngoại Việt Nam được thực hiện theo những phương châm và tư tưởng chỉ đạo sau:

-Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng của Việt Nam.

-Giữ vững độc lập tự chủ, tự cường đi đôi với đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế và thời đại; phát huy tối đa nội lực đi đôi với thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.

-Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao Nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh.

- Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; cố gắng thúc đẩy mặt hợp tác, nhưng vẫn phải đấu tranh dưới hình thức và mức độ thích hợp với từng đối tác.

- Mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị xã hội

- Giữ vững ổn định chính trị, kinh tế – xã hội; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, thực tiễn hội nhập của đất nước từ khi gia nhập WTO, đã cung cấp những căn cứ thực tiễn để Đại hội XI chuyển từ chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác” được thông qua tại Đại hội X sang “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Với chủ trương này, hội nhập quốc tế không còn bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà mở rộng ra tất cả các lĩnh vực khác, kể cả chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa-xã hội....

Hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực mang đến cho chúng ta nhiều cơ hội, nhất là khả năng tranh thủ hiệu quả hơn các nguồn lực bên ngoài. Cùng với hội nhập kinh tế, hội nhập trong các lĩnh vực khác sẽ tạo cơ hội lớn hơn trong tiếp cận tới tri thức tiên tiến của nhân loại, gia tăng mức độ đan xen lợi ích, từng bước làm cho đất nước trở thành bộ phận hữu cơ của khu vực và thế giới, chiếm vị trí ngày càng cao trong nền kinh tế, chính trị và văn hóa toàn cầu. Hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực cũng tạo cho chúng ta khả năng tận dụng được sự tác động qua lại, bổ sung lẫn nhau giữa hội nhập trong từng lĩnh vực. Tuy nhiên, từ hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực khác chuyển sang hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực đặt ra cho chúng ta một số thách thức mới. Tác động tiêu cực từ các diễn biến bên ngoài sẽ gia tăng. Những bất ổn không chỉ về kinh tế mà cả về an ninh, chính trị, xã hội từ bên ngoài sẽ nhanh chóng tác động tới nước ta; các loại tội phạm xuyên biên giới như: buôn bán ma túy, rửa tiền, thâm nhập tiền giả, tài liệu phản động, văn hóa phẩm không lành mạnh và các thách thức an ninh phi truyền thống khác có thể gây tác hại đến mọi mặt của an ninh quốc gia từ an ninh kinh tế đến an ninh chính trị xã hội. Phạm vi và tốc độ lây lan của các cú sốc từ bên ngoài cũng gia tăng. Đồng thời, yêu cầu bổ sung và hoàn thiện thể chế; cải cách và hiện đại hóa nền hành chính quốc gia, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao v.v... sẽ ngày càng lớn.

Để giảm thiểu các tác động tiêu cực và khai thác tối đa các cơ hội từ hội nhập quốc tế, nội dung và lộ trình của hội nhập trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa-xã hội…cần phải được xác định phù hợp với thế, lực của đất nước, sao cho hội nhập quốc tế phục vụ hiệu quả nhất mục tiêu phát triển, bảo vệ Tổ quốc XHCN và vị thế quốc gia.

Như vậy, từ “muốn là bạn” (Đại hội Đảng lần thứ VII), “sẵn sàng là bạn” (Đại hội Đảng lần thứ VIII), “là bạn và đối tác tin cậy” (Đại hội Đảng lần thứ IX, Đại hội X), Đại hội Đảng lần thứ XI, Đại hội XII, hoàn chỉnh và bổ sung thêm cụm từ là “thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, thể hiện sự phát triển, trưởng thành của ngoại giao Việt Nam. Việt Nam đã tham gia ngày càng tích cực, chủ động, có trách nhiệm tại các cơ chế, tổ chức, diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu (ngoại giao đa phương), đã góp phần củng cố, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, bổ sung, hỗ trợ hiệu quả cho ngoại giao song phương.

Ưu tiên đối ngoại trong thời gian tới là “xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh”. Tuy vậy, “trách nhiệm” của Việt Nam trong cộng động này nói riêng, cộng đồng quốc tế nói chung phải thực hiện trên cơ sở lợi ích quốc gia dân tộc, trên cơ sở năng lực thực hiện trong từng vấn đề, từng giai đoạn. Trách nhiệm cũng cần được xác định theo các cấp độ: trách nhiệm đối với dân tộc của mình; trách nhiệm đối với khu vực của mình; trách nhiệm đối với những vấn đề chung của nhân loại.

Định hướng đối ngoại:

Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc và phương châm và tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra những định hướng lớn cho công tác đối ngoại thời gian tới. Trong đó, định hướng tổng thể, bao trùm là nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ quốc tế vào chiều sâu; những định hướng cụ thể gồm:

Thứ nhất: Ngoại giao kinh tế: Chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế; xúc tiến thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các nguồn lực do cơ chế hợp tác quốc tế mang lại, như vốn, khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến…

Thứ hai: Quan hệ song phương: Tiếp tục phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, Việt Nam sẽ ưu tiên phát triển quan hệ hợp tác và hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng có chung biên giới, đồng thời nỗ lực làm sâu sắc hơn nữa quan hệ với các đối tác chủ chốt.

Thứ ba: Đối với ASEAN: Việt Nam sẽ chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, tăng cường quan hệ với các đối tác, duy trì và củng cố vai trò quan trọng của ASEAN trong các khuôn khổ hợp tác ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Định hướng này là bước phát triển mới, cao hơn trong tầm nhìn ASEAN của Đảng từ trước đến nay. Đảng ta khẳng định rõ, Việt Nam là một thành viên trong ASEAN, Việt Nam tham gia các hoạt động trong ASEAN với tư cách là một thành viên có trách nhiệm; chỉ rõ mục tiêu của các hoạt động của Việt Nam trong ASEAN là xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN; xác định rõ đặc tính của Cộng đồng ASEAN mà Việt Nam phấn đấu cùng các nước xây dựng là một cộng đồng vững mạnh, có quan hệ chặt chẽ với các đối tác bên ngoài và có vai trò ngày càng quan trọng trong các cơ chế hợp tác ở khu vực; đồng thời khẳng định, phương châm tham gia hợp tác ASEAN là chủ động, tích cực và có trách nhiệm. Với định hướng này, việc tham gia trong ASEAN trở thành một trong những trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, ngang với “quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng chung biên giới”[4].

Thứ tư: Ngoại giao đa phương: Với phương châm là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam sẽ mở rộng tham gia và đóng góp ngày càng tích cực, chủ động, trách nhiệm vào các cơ chế, tổ chức, diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu, đặc biệt là Liên Hợp quốc. Việt Nam sẽ tích cực hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế để đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là vấn đề biến đổi khí hậu.

Thứ năm: Ngoại giao láng giềng: Thúc đẩy giải quyết những vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực; làm tốt công tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.

Thứ sáu: Đối ngoại quốc phòng, an ninh: Chủ động, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam.  Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền. Chúng ta chủ trương không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia. Phát huy mạnh mẽ mặt “đối tác”, hạn chế tối đa mặt “đối tượng” trong quan hệ với từng nước, tận dụng thời cơ đan xen lợi ích chiến lược giữa các nước lớn. Phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác với các đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện. Củng cố quan hệ đặc biệt với Lào, Cămpuchia, tạo dựng lòng tin chiến lược với Trung Quốc, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong quan hệ khục vực và giải quyết tranh chấp ở biển Đông.

Với định hướng này, đối ngoại quốc phòng, an ninh sẽ tiếp tục phát triển và có vai trò ngày càng quan trọng trong đảm bảo an ninh quốc gia,

Thứ bảy: Đối ngoại Đảng: Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ đối ngoại đảng với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các đảng cầm quyền và các đảng khác.

Thứ tám: Đối ngoại nhân dân: Tiếp tục coi trọng và nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao nhân dân.

Triển khai các hoạt động đối ngoại:

Khi hội nhập quốc tế mở ra trong tất cả các lĩnh vực, yêu cầu việc triển khai hoạt động đối ngoại tất yếu phải toàn diện, đồng bộ và không chồng chéo, không triệt tiêu lẫn nhau. “Tính toàn diện của đối ngoại Việt Nam được quy định bởi sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong mọi hoạt động của hệ thống chính trị, đặc biệt trong hoạt động đối ngoại; tính toàn diện trong mục tiêu của chính sách đối ngoại và; sự đa dạng của các mối quan hệ đối ngoại trong quá trình hội nhập”[5]

Triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại, nói cách khác là xây dựng một nền đối ngoại toàn diện, sẽ tạo nên xung lực tổng hợp của các lĩnh vực, các loại hình, các kênh đối ngoại, nhưng cũng tạo nên một số thách thức mới. Nếu không có kế hoạch tổng thể và nếu không có sự chỉ đạo thống nhất và phối hợp nhịp nhàng giữa các kênh, các lĩnh vực đối ngoại thì sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực và làm suy giảm hiệu quả của các hoạt động đối ngoại.

Coi triển khai đồng bộ và toàn diện là phương châm ưu tiên trong triển khai đối ngoại, Tạo ra nhận thức và đồng thuận lớn hơn trong Đảng và nhân dân về tính chất mới của sự nghiệp đối ngoại cũng như nêu rõ hơn yêu cầu tham gia tích cực và chủ động hơn của mọi lực lượng trong hoạt động đối ngoại, đồng thời đưa tới những bước tiến mạnh hơn theo hướng thống nhất chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành và địa phương.

  1. NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU TRONG CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Trong gần 35 năm đổi mới, cùng với những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử trên nhiều mặt, đường lối đối, chính sách ngoại của Đảng và Nhà nước ta đã có bước phát triển mới, quan trọng về lý luận, thu được những thắng lợi to lớn trên thực tiễn.

3.1.Đối mới cách tiếp cận về đường lối, chính sách đối ngoại

Lợi ích quốc gia - dân tộc vừa là mục tiêu vừa là nguyên tắc cao nhất của các hoạt động đối ngoại. Lợi ích quốc gia - dân tộc là lợi ích tối cao của gần 90 triệu nhân dân Việt Nam và hơn 4 triệu người Việt Nam ở nước ngoài.

Hội nhập quốc tế trở thành định hướng đối ngoại lớn, lấy hội nhập kinh tế là trọng tâm và mở rộng sang các lĩnh vực khác: chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa-xã hội và ở mọi cấp độ song phương, khu vực, đa phương và toàn cầu.

Đổi mới cách tiếp cận: Từ cách tiếp cận “ta – địch”, xác định các loại kẻ thù đối với cách mạng nước ta, chúng ta đã chuyển sang cách tiếp cận “đối tác-đối tượng”, trong đối tác có mặt đối tượng, trong đối tượng có mặt đối tác, vừa hợp tác vừa đấu tranh. Từ coi trọng quan hệ với các nước XHCN, quan hệ với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại, chúng ta chủ trương “là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Xác định Việt Nam là một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong xây dựng cộng đồng ASEAN, quan hệ với ASEAN trở thành một trọng tâm đối ngoại. Trên cơ sở đó Việt Nam tích cực thúc đẩy ASEAN ngày càng đóng vai trò xứng đáng hơn với tư cách là trung tâm giải quyết những tranh chấp, xung đột chủ quyền trên biển Đông, bảo đảm hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực.

Giữ vững quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng: Chúng ta đã củng cố, tăng cường quan hệ đoàn kết  với Lào và Cawmpuchia trên cơ sở tôn trọng lợi ích quốc gia, hợp tác hai bên cùng có lợi, tin cậy lẫn nhau về chính trị, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hợp tác về  quốc phòng, an ninh, kinh tế, thương mại, văn hóa…

Đối với Trung Quốc tuy là một láng giềng lớn, có quan hệ hữu nghị truyền thống, hiện là đối tác chiến lược toàn diện, nhưng có mâu thuẫn với Việt Nam về chủ quyền biển, đảo. Chúng ta đã nỗ lực xây dựng sự tin cậy, tăng điểm tương đồng thu hẹp bất đồng, kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia, phát triển quan hệ hợp tác thương mại, duy trì hòa bình, kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và các thỏa thuận giữa ASEAN và Trung Quốc.

Đối ngoại toàn diện:  Trên cơ sở phát huy tiềm lực của mọi lực lượng và thực thi trên mọi kênh (kinh tế, chính trị, khoa học, văn hóa, quốc phòng, an ninh; Đảng, Nhà nước, Nhân dân…), nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trên mặt trận đối ngoại. Trong điều kiện quốc tế ngày nay khi quá trình hội nhập ngày càng được xúc tiến nhanh, ngoại giao đa phương ngày càng giữ một vị trí quan trọng; đối ngoại đa phương cùng với đối ngoại song phương góp phần nâng cao vị thế quốc tế của đất nước trên thế giới.

3.2.Chủ động, tích cực hội nhập, trở thành thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế

Chúng ta đã phá thế bị bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giải quyết hoà bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước liên quan. Mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá.

Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, là đối tác chiến lược với 15 quốc gia, trong đó có 4 quốc gia là thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Việt Nam đã hoạt động tích cực với vai trò ngày càng tăng tại Liên hợp quốc (ủy viên Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC), ủy viên Hội đồng chấp hành Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Qũy dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Hội đồng Nhân quyền (UNHRC) và nhiều tổ chức quốc tế khác), phát huy vai trò thành viên tích cực của phong trào Không liên kết, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, ASEAN. Tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế (tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do thế hệ cũ và mới, AFTA, APEC, WTO). Thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học công nghệ và kỹ năng quản lý. Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh toàn cầu. Kết hợp nội lực với ngoại lực, hình thành sức mạnh tổng hợp góp phần đưa đến những thành tựu kinh tế to lớn. Giữ vững, củng cố độc lập tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Kết luận:

Có thể nói, thời kỳ đổi mới, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta đã phát triển mạnh mẽ, phù hợp với xu thế hòa bình, dân chủ, hợp tác và phát triển trên thế giới, góp phần to lớn vào những thành tựu đổi mới mọi mặt của đất nước. Đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, phục vụ sự phát triển kinh tế, đảm bảo môi trường hòa bình, củng cố quốc phòng, an ninh đất nước, ngoại giao đa phương, ngoại giao toàn diện là những nét sáng tạo nổi bất trong đường lối và hoạt động ngoại giao thời kỳ đổi mới. Mặc dù ngoại giao Việt Nam hiện nay không thể tránh khỏi những khó khăn, hạn chế, thách thức, nhưng những kết quả đạt được của Ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ đổi mới khẳng định tính đúng đắn, khoa học của đường lối đối ngoại của Đảng. Thành quả của ngoại giao Việt Nam đã củng cố và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, tạo ra thế cơ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có lợi cho việc bảo vệ độc lập tự chủ và an ninh cũng như công cuộc xây dựng đất nước.

  1. Các câu hỏi

Câu hỏi trước khi nghe giảng:

1.Đồng chí suy nghĩ gì về tầm quan trọng của đường lối, chính sách đối ngoại?

  1. Đường lối, chính sách đối ngoại phụ thuộc vào những yếu tố gì ?

3.Thử suy nghĩ về những thay đối quan trong nhất trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong 30 năm đối mới ?

Câu hỏi thảo luận:

  1. Những nhân tố ảnh hưởng đến đường lối, chính sách đối ngoại Việt Nam ?
  2. So sánh mục tiêu, nhiệm vụ của đường lối đối ngoại của Đảng ta trước và sau năm 1986 !
  3. Phân tích mối quan hệ giữa các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc?

Câu hỏi ôn tập:

  1. Phân tích tình hình thế giới, khu vực trong nước tứ sau chiến tranh lạnh ?
  2. Nêu mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương châm, định hướng công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay?
  3. Thực trạng hoạt động đối ngoại của nước ta hiện nay?
  4. Những phát triển, bổ sung mới của Đảng ta trong tư duy chính sách đối ngoại, những thành tựu đối ngoại của Việt Nam trong 30 năm đổi mới ?
  5. Tài liệu học tập

Tài liệu bắt buộc đọc:

Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)

 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, Hà Nội. 2011, tr. 83-85, 95-98, 183-185, tr.235-238.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng TƯ Đảng, Hà Nội, 2016 (mục III)

Tài liệu tham khảo:

-Phạm Bình Minh: Đường lối đối ngoại Đại hội XI và những phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Đảng ta, (MOFA -20/5/2011)

-Phạm Quang Minh: Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986 -


[1] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr.183

[2] Phạm Bình Minh: Đường lối đối ngoại Đại hội XI và những phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Đảng ta, (MOFA -20/5/2011)

[3] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.236

[4] Phạm Bình Minh: Đường lối đối ngoại Đại hội XI và những phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Đảng ta, (MOFA -20/5/2011)

[5] Phạm Bình Minh: Đã dẫn

THỐNG KÊ TRUY CẬP
Đang truy cập: 4
Trong ngày: 4
Trong tuần: 425
Lượt truy cập: 460222

THÔNG TIN LIÊN HỆ
VIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
Điện thoại: 0243.201.1061/ 09046343880904153125
Email: vien.iaict@gmail.com
Địa chỉ: Tầng 5 - Số 7 Tôn Thất Thuyết - Cầu Giấy - Hà Nội
Chịu trách nhiệm nội dung: GS.TSKH Phan Xuân Sơn
Chịu trách nhiệm kỹ thuật website: Kỹ sư CNTT Phạm Thị Ngọc Thanh  ☎️ 0927890588